23rd Nov 2006

Claudio Magris – Kitsch and passion

Hôm trước đi mua sách, sau khi phần nào đó tìm lại cảm hứng đọc sách tiếng Việt Image. Trong số đám nhặt về, có tập tiểu luận của Claudio Magris. Quyển này nhặt về vì 1 số lý do ngẫu nhiên và phi lý bao gồm thứ nhất là mở ra đúng cái tiểu luận tên là Kitsch và đam mê. Mà em, bị ám ảnh nỗi sợ sự sến sâu sắc, bởi như bạn nào bảo, chúng ta lớn lên lệch lạc đến nỗi cả thật thà dũng cảm cũng bị coi là sến, nên đã luôn luôn có mối quan tâm có phần bệnh hoạn đến những sự sến/kitsch của người Image (mặc dù 2 khái niệm này không hoàn toàn đồng nghĩa). Lý do thứ 2 là nhà sách còn mỗi 1 quyển, nên cứ mua vì sắp… không mua được nữa Image.

Sau khi mua về thì nhận ra quyển này được dịch khá tệ với thứ tiếng Việt trúc trắc gấp mấy lần anh Joe, không dành cho các bạn yêu sự trong sáng của tiếng Việt. Và em mới đọc hết đúng cái tiểu luận Kitsch và đam mê.

Nhưng trong cái phiếm đàm hết sức “Lê Vân yêu và sống” này về những người nổi tiếng của thế kỷ trước, cũng có những ý tưởng đúng đắn buồn cười như “tri thức nên mang tính đa hôn và đa thần”, hoặc về tính sến ngu dại phổ quát của con gái dù có ở đâu hay là ai.

Nên post lại ở đây, sau khi Việt hóa thêm phần nào và lược bớt những đoạn rườm rà tối nghĩa. Hy vọng Claudio Magris vẫn sẽ nhận ra những điều mình đã viết.

The image “http://www.vanguardcinema.com/kitsch/kitsch.jpg” cannot be displayed, because it contains errors.

Kitsch và đam mê – Hannah Arendt và Martin Heidegger

        Đối với chúng ta, chỉ có những người chúng ta yêu là quan trọng, còn những kẻ yêu chúng ta, thì dường như họ không hiện hữu” (Dostoevski)

“Em sẽ là người em muốn. Anh sẽ là anh”, Heinrich Blutcher đã viết cho Hannah Arendt trước lúc cưới bà ít lâu. Ông yêu Hannah, nhưng bất hạnh thay Hannah yêu Heidegger, và hẳn bà đã cảm động không phải bởi tình yêu chân thật và phóng khoáng thể hiện trong lá thư của Blutcher viết vào tháng 9/1936, mà bởi lá thư đầu của Heidegger ngày 10/2/1925 – một lá thư đường mật và sâu sắc giả tạo, qua đó bậc thầy của triết học thế kỷ 20 đã ra tay quyến rũ cô học trò 19 tuổi, khi ông ca ngợi trí tuệ và tâm hồn cô, khi ông đề nghị với cô sự hướng dẫn ân cần của mình để giúp cô luôn trung thành với chính mình, khi ông bảo rằng ông cảm thông với những nỗi lo lắng khôn tả xiết của cô và mong cô cảm thông với nỗi cô đơn khủng khiếp của ông trong cuộc sống khổ hạnh dâng hiến cho nghiên cứu và tri thức.

Chuyện tình này với đoạn đầu nồng nàn và sau đó chuyển sang tình bạn trìu mến đã dàn trải suốt cuộc đời 2 người dù có những lúc đứt đoạn, và gắn liền với những sự kiện lịch sử bi thảm như sự lên ngôi của chủ nghĩa Quốc xã, cuộc lưu vong của Hannah-Do-Thái, cuộc Thế chiến 2, nước Đức bị chia cắt và lúng túng xét lại quá khứ với những nỗi kinh hoàng của cuộc diệt chủng.

Tình cảm giữa họ chẳng hề làm giảm bớt tầm quan trọng và ý nghĩa cá nhân của mỗi người, dù rằng chắc hẳn Heidegger là nhân vật quan trọng hơn, đã đóng vai trò nổi bật trong lịch sử văn minh, mặc dù những thỏa hiệp của ông với chủ nghĩa Quốc xã.

Và chính Heidegger đã đưa mối tình này vượt quá phạm vi tình cảm cá nhân, vì ông đã trộn lẫn các bình diện công và tư của tình cảm ấy, và những năm cuối đời đã lợi dụng chuyện tình giữa ông và Hannah để che giấu những vết nhơ của các hành vi thời quốc xã để tự phục hồi danh dự cho mình hoặc thậm chí tự tán tụng mình như một nạn nhân của Đệ tam Đế chế chứ chẳng phải là kẻ đồng lõa.

Khởi đầu câu chuyện không có gì đặc sắc. Hannah mê đắm nhà triết học và dòng triết học Đức lớn lao mà ông hiện thân, và chính bà đã nghiên cứu, trải nghiệm bước ngoặt của lịch sử đương đại, sự biến đổi triệt để của thế giới rồi cuộc lưu vong và đi tìm sự chân thực hiện sinh. Nếu không có dòng triết học này hay dòng văn hóa Do Thái và bi kịch của nó, chắc hẳn sau đó các tác phẩm lớn của Hannah Arendt đã chẳng ra đời, cả tác phẩm về chủ nghĩa toàn trị lẫn tác phẩm về sự tầm thường của cái ác.

Cô sinh viên yêu thương, hồ hởi và toàn tâm phục vụ vị giáo sư, người vui vẻ đón nhận mà không yêu.

Yêu có nghĩa là yêu người kia, tôn trọng người kia, muốn sự tốt đẹp cho người kia và muốn họ vẫn là họ, ngay cả khi điều này có thể mang lại đau khổ cho mình. Hannah Arendt biết tình yêu là gì, cô không bao giờ có ý định thao túng Heidegger và tìm cách không để mình cảm thấy là mình đang bị thao túng. Heidegger bấy giờ đã có vợ theo chủ nghĩa quốc xã, chỉ biết yêu chính mình. Ông cần làm thần tượng cho cô gái trẻ và cần cô để cảm thấy “cường độ mãnh liệt của cuộc sống”. Trong quan hệ với cô, ông đan xen trìu mến, mệnh lệnh, buồn phiền, nịnh hót, khoảng cách, tình cảm mĩ miều, dăm ba vần thơ kitsch vốn chỉ có thể nảy sinh từ nền văn hóa Đức ở những khía cạnh “trớ trêu” nhất của nó, vốn cấu thành một kiểu tự giễu nhại ngoài ý muốn.

Chuyện tình giữa Hannah Arendt và Heidegger vì ông mà mang sắc thái ướt át ra vẻ vĩnh cửu siêu phàm, phục vụ cho việc giả mạo thực tại và giả mạo cảm thức chân thật về tính vĩnh cửu. Khi đọc câu chuyện tình đượm nhiều đến quá lố “tính chất Đức” này, người ta nhận ra sự thiếu vắng của cái “bình thường”, cần thiết cho một tình cảm chân thành có khả năng trực diện cuộc sống vốn đan xen đắm đuối và xấu xa, chân thực và ảo tưởng.

Mối quan hệ tình cảm mà Heidegger quyết định chấm dứt năm 1928 đã xác lập trong khung cảnh nước Đức giai đoạn ấy, trong sự phát lộ của Heidegger về mặt tri thức và cuộc khủng hoảng chính trị. Cuộc đời đôi tình nhân đan chéo với cuộc đời những nhân vật như Husserl hoặc Jaspers, những người cũng bị Heidegger thu hút và đã phải chịu đựng nhiều đau khổ vì ông.

Nhiều năm sau, tôi có dịp tiếp xúc với môi trường hàn lâm ngoại hạng ấy ở Freiburg, nơi vẫn đang được một số nhân vật xuất chúng lui tới. Hans Jonas, người sinh viên trẻ đã đưa địa chỉ của Hannah cho Heidegger, lúc tôi gặp đã trở thành lão niên khả kính. Benno von Wiese, người theo đuổi Hannah hồi trẻ (và khi Heidegger biết điều này đã thể hiện sự thích chí vị kỷ điển hình của đàn ông), sau đó trở thành người đầu ngành Đức học. Tôi gặp lại ông ở Torino, to lớn và kiêu kỳ, trong một hội nghị mà chúng tôi phải kéo thêm người thân tới tham dự, vì sợ ông nổi giận trước cử tọa quá thưa thớt. Cái thế giới văn hóa ấy mang tính nội hôn, và cũng giống như mọi môi trường nội hôn – giáo phái, nhóm nghệ thuật, nhóm chính trị, salon văn học, câu lạc bộ hoặc hiệp hội hàn lâm – nó mang tính sở hữu và làm tê liệt các thành viên, nó thuyết phục họ phải quy phục trật tự thứ bậc và tôn thờ những người có thẩm quyền như những ngẫu tượng. Để được tự do, để không dễ bị quyến rũ bởi những vị thày muốn hớp hồn và uốn nặn môn đệ, thì về mặt tri thức cần phải mang tính “đa hôn” và “đa thần”. Giả dụ Hannah còn có những mối quan tâm khác và lui tới những thế giới khác và những tình bạn khác, có thể cô đã tự do và hạnh phúc hơn.

Nhiều năm trôi qua, sau cuộc chiếu tranh, lưu vong, Auschwitz, hai người liên lạc trở lại. Hannah sống ở Mỹ, trở thành nhà luận thuyết lớn, nhân chứng và nhà diễn giải về những địa ngục của thế kỷ 20. Heidegger bị đình chỉ giảng dạy vì sự thỏa hiệp với chủ nghĩa Quốc xã. Ông không phạm tội ác, nhưng đã tiến hành rất nhiều vụ dèm pha nho nhỏ với nhiều người: thày dạy (như Husserl), đồng nghiệp, sinh viên Do Thái và cả Thiên Chúa giáo. Những nhân vật lớn khác của thế kỷ 20 thỏa hiệp với chủ nghĩa Quốc xã như Celine và Hamsun đã phạm những điều trầm trọng hơn, nhưng họ thừa nhận trách nhiệm của họ, trong lúc Heidegger hầu như muốn tự biến mình thành nạn nhân một cách thiếu trung thực và vô sỉ.

Hannah trong thâm tâm vẫn chung thủy với ông, bà hỗ trợ ông phục hồi lại cương vị, bà không muốn nhìn ra những hành vi quỷ quyệt và nhỏ mọn của ông, bà muốn tin vào những lời nói dối mà ông sử dụng để tự lừa mình và lừa bà. Đối với bà, Heidegger vẫn là một người yêu. Đối với ông, Hannah là công cụ tốt nhất để phục hồi thanh danh và đảm nhận lại những cương vị danh giá và quyền thế.

Hannah bướng bỉnh tin vào những sự giả mạo của ông. Chỉ duy có 2 lần bà thừa nhận Heidegger “lúc nào cũng nói dối” và “có tiềm năng sát nhân”. Sự sáng suốt không kéo dài, bà nhanh chóng đầu hàng sự kính ngưỡng, vì ông hoặc vì hình ảnh về ông mà bà lưu giữ trong tim qua nhiều năm tháng, và bà hầu như biến mình thành kẻ đồng loã với những giả dối đã huyễn hóa không chỉ một cuộc đời mà cả một trang sử thế giới, dù rằng bà suốt đời kiên cường yêu quý sự thật. Heidegger biết ơn bà, thậm chí với sự trìu mến, nhưng khi ông không cần đến bà, ông giữ bà ở đằng xa và không cho phép bà làm mình sao lãng việc nghiên cứu, rập khuôn theo câu chuyện về một thiên tài thích được phụ nữ truyền sức sống, nhưng sau đó lại bảo rằng “thôi nàng hãy chịu khó tránh ra để ta làm việc”.

Qua công trình đáng ghi nhớ về vụ xử Eichmann, Hannah Arendt khám phá ra sự tầm thường của cái ác, điều mà bên cạnh sự đày đọa còn là sự ngu xuẩn và cái kitsch. Bà, một con người và một trí thức dũng cảm, lại không đủ can đảm để khám phá ra rằng ngay cả tình yêu cũng có thể vừa da diết vừa tẻ nhạt, rằng thậm chí người ta có thể yêu và tôn thờ một người hằn những dấu vết ti tiện.

Vậy thì tìm đâu câu trả lời cho mâu thuẫn này? “Tại tâm”, thiên hạ bảo thế, và một nhân vật trong Gió thoảng của Stefano Jacomuzzi trả lời: “thế mà cái tâm lại thường ngổn ngang trăm mối, chẳng tin cậy được”.

_____________

Các tác phẩm của Arendt:

Nguồn gốc của chủ nghĩa toàn trị: Tìm nguồn gốc của chủ nghĩa Stalin và chủ nghĩa phát xít trong sự diệt chủng Do Thái và chuyên chính. Quyển sách này gây nhiều tranh cãi vì đã đồng nhất về cơ bản 2 chế độ, dù nhiều người tin rằng 2 chế độ này khác nhau về nguồn gốc và bản chất.

Khi làm phóng sự về vụ án Eichmann cho tờ The New Yorker, sau này phát triển thành quyển Eichmann ở Jerusalem, Arendt nêu lên câu hỏi cái ác có phải xuất phát từ lý trí hay đơn giản là một cơ chế tầm thường – khuynh hướng tuân lệnh và đồng hóa mình vào ý kiến số đông của những người bình thường mà không suy nghĩ về hậu quả các hành động/ không hành động của mình.

2 Responses to “Claudio Magris – Kitsch and passion”

  1. Linh Says:

    Chịu khó type ghê.
    Dịch sách phê bình chắc cũng khó hơn dịch sách thường. Trước anh thấy có quyển của Kundera do Nguyên Ngọc dịch là hay, không trúc trắc khó hiểu.
    Anh cũng hâm mộ bà Arendt này sau kho đọc cuốn Eichmann in Jerusalem của bà ấy. GIờ có cả Nguồn gốc của toàn trị nhưng vẫn chưa đọc.

  2. gt Says:

    Doc xong doan tren em cung ham mo va thong cam cho ba Hannah nay qua!

    Heidgger du gi di nua cung la mot nguoi dan ong khac thuong, con Hannah thi “suot doi kien cuong yeu quy su that”, co le vi the nen Hannah khong phai la khong chiu hieu nhung van dung tung cho nhung mau thuan noi tai cua minh :)

Leave a Reply