Archive for February, 2007

26th Feb 2007

Biển những diễn từ đã mất

Tối nay lơ mơ nằm trên sofa xem lễ trao giải Oscar, mỗi người được xướng tên lên nhận tượng vàng, rút trong túi áo/ví/đâu đó ra một mảnh giấy và đọc vài lời diễn từ cảm xúc cảm tạ.

Mỗi bài diễn từ được đọc lên khiến 4 bài diễn từ khác biến mất, rơi vào lãng quên âm thầm và sẽ không bao giờ được biết tới. Trong một buổi tối tại nhà hát Kodak, biết bao nhiêu diễn từ đã chết yểu như thế.

Biển những diễn từ đã mất.

Năm 1969, sau khi bước chân người đầu tiên đặt lên mặt trăng, là diễn văn tuyên bố của Tổng thống Mỹ với toàn thế giới. Có một phần đã chết yểu không bao giờ được nói lên hay đọc ra, diễn từ cho Plan B nếu Neil Armstrong và Buzz Aldrin nằm lại mặt trăng cùng con tàu vũ trụ của họ.

Những người khác sẽ tiếp bước và chắc chắn sẽ tìm thấy đường về. Cuộc kiếm tìm của Con Người không thể bị chối bỏ. Nhưng Họ là những người đầu tiên và Họ sẽ ở lại mãi trong tim chúng ta.

Và từ giờ khi con người ngước nhìn lên mặt trăng mỗi đêm, họ sẽ biết một phần của nhân loại vĩnh viễn ở lại nơi ấy.

Những điều được viết ra cho những khả năng. Và chết yểu cùng với khả năng ấy. Nếu những điều đó được xướng lên, sẽ có những thứ khác chết yểu.

Biển những diễn từ đã mất chẳng bao giờ cạn.

Posted in Uncategorized | 4 Comments »

23rd Feb 2007

Nên chắc cũng sắp Tết lại thôi…

Thế là hết Tết và Sài Gòn hết vắng. Chiều 30 (tức 29) lúc nhập nhoạng đi lang thang trên những con đường vắng tanh Sài Gòn, như năm ngoái đã đi như thế, năm kia, và trước đó nữa ở Hà Nội. Như tất cả các chiều 30, lang thang và uống cafe tất niên, để nhìn thấy một thành phố hoang vắng 1 lần trong năm, những đường phố dài cửa cửa khép kín, những ngõ phố mà 1 tuần sau sẽ không nhận ra. Để thấy hoang mang chạnh lòng. Vì đôi khi người ta vẫn cứ muốn cảm thấy một sự chạnh lòng như thế.

“thật là, chỉ thích xem cảnh chợ chiều thôi à”
“ơ, thật chả biết thưởng thức cái đẹp của phai tàn. chợ đông thì còn bận đi mua chứ biết xem vào lúc nào”

Ngày mai, Sài Gòn sẽ lại như chưa bao giờ Tết và chưa bao giờ vắng. Thứ 2 sẽ lại đi làm như chưa bao giờ nghỉ. Đông qua xuân tới.

26/4, nhân dịp Pacific Airlines bán vé giá rẻ, sẽ ra Hà Nội.

Nghĩ đi nghĩ lại chưa kịp thấy có gì khác thì 10 năm đã trôi qua. Nên chắc cũng sắp Tết lại thôi…

Posted in Uncategorized | 5 Comments »

22nd Feb 2007

Brave New World

Trích đoạn từ Hạt cơ bản của Houellebecq, vẫn “rất thời trang”, như một review về The Brave New World của Huxley, về tương lai và hoài nghi của thời đại chúng ta.

Bruno đến vào quãng chín giờ tối, anh đã uống một chút và muốn đề cập những vấn đề lý thuyết, “Anh luôn bị ấn tượng”, anh bắt đầu trước khi kịp ngồi xuống, “trước sự chính xác lạ thường của những dự đoán mà Aldous Huxley trình bày trong Brave New World. Nhất là khi ông ấy viết quyển sách đó từ mãi năm 1932. Kể từ đó, xã hội Tây phương luôn tìm cách tiếp cận hình mẫu đó. Kiểm soát ngày càng chính xác hơn sự truyền giống, một ngày nào đó nó sẽ kết thúc bằng việc giải trừ hoàn toàn tình dục, và đến việc tái tạo giống người trong phòng thí nghiệm trong những điều kiện an toàn và tính khả thi di truyền hoàn toàn. Do đó sẽ biến mất những quan hệ gia đình, khái niệm bố mẹ và liên kết. Nhờ vào những tiến bộ dược phẩm, sẽ loại trừ phân biệt về tuổi tác của cuộc đời. Trong thế giới do Huxley miêu tả, những ông già sáu mươi tuổi có cùng những hoạt động, cùng vẻ bề ngoài, cùng những ham muốn với một thằng thanh niên hai mươi tuổi. Rồi khi không còn cần đấu tranh chống sự già đi, người ta chết bằng trợ tịch được thông qua dễ dàng; rất kín đáo, rất nhanh chóng, không có thảm kịch nào hết. Xã hội được miêu tả trong Brave New World là một xã hội hạnh phúc, tại đó bi kịch và những thứ tình cảm quá đà đã biến mất. Tự do tình dục ở đó là hoàn toàn, không gì gây trở ngại cho sự bừng nở và khoái cảm. Có những giây phút trầm uất, buồn bã và nghi ngờ ngắn ngủi; nhưng chúng được chữa khỏi rất nhanh bằng thuốc men. Hóa học về chống trầm uất và lo sợ đã đạt những tiến bộ đáng kể. ‘Một xăng-ti-mét khối chữa được mười thứ tình cảm.’ Ðó chính xác là cái thế giới mà ngày nay chúng ta đang mơ ước, cái thế giới trong đó, ngày nay, chúng ta mong được sống.”

“Anh biết rõ”, Bruno nói tiếp với một cử động của bàn tay như để quét đi một trở ngại nào đó mà Michel không hề tạo ra, “rằng thường thì người ta miêu tả xã hội của Huxley như một cơn ác mộng toàn trị, rằng người ta cố biến quyển sách này thành một lời cự tuyệt mạnh mẽ. Đó là một thứ đạo đức giả hoàn toàn và đơn giản. Ở mọi điểm – kiểm soát gen, tự do tình dục, chiến thắng tuổi già, văn minh hưởng lạc, Brave New World là một thiên đường, và chính xác nó là cái thế giới mà chúng ta đang cố đạt tới, nhưng đến giờ vẫn chưa thành công. Ngày nay chỉ có một điều hơi động chạm đến hệ thống giá trị công bằng của chúng ta – hoặc chính xác hơn là chế độ hưởng theo năng lực – sự phân chia trong xã hội thành các giai tầng, bị ảnh hưởng bởi những công việc khác nhau theo bản chất di truyền của chúng. Nhưng chính đó là điểm duy nhất Huxley tỏ ra là một nhà tiên tri kém cỏi; chính đó là điểm duy nhất, với sự phát triển của quá trình rô bốt hóa và máy móc hóa, đã trở nên ngày càng vô nghĩa. Không thể nghi ngờ Aldous Huxley là một nhà văn rất tồi, câu văn của ông nặng nề và không có tí duyên dáng nào, những nhân vật của ông buồn tẻ và máy móc. Nhưng ông có cái nền tảng trực giác rằng tiến trình của xã hội loài người từ nhiều thế kỷ nay, và ngày càng như thế, chỉ duy nhất được khoa học và công nghệ hướng lối. Ngoài ra ông còn thiếu tinh tế, thiếu tâm lý, thiếu phong cách; tất cả những cái đó ít ảnh hưởng đến tính đúng đắn của trực giác ban đầu của ông. Và là người đầu tiên trong số các nhà văn, kể cả các nhà văn chuyên viết truyện khoa học viễn tưởng, ông đã hiểu được rằng sau vật lý giờ đây sinh học sẽ đóng vai trò đầu tàu.”

Bruno ngừng lời, nhận ra em trai có vẻ gầy đi; Michel trông mệt mỏi, lo lắng, không tập trung lắm. Quả thật đã từ vài ngày nay, anh không đi chợ mua đồ ăn. Trái ngược lại với những năm trước, giờ đây trước cửa siêu thị Monoprix có rất nhiều người ăn xin và bán báo dạo; nhưng dù sao bây giờ vẫn đang là mùa hè, thường thì đó là mùa mà sự nghèo khó không đến nỗi thảm khốc lắm. Sẽ như thế nào nếu xảy ra chiến tranh? Michel tự hỏi khi đứng ở cửa sổ ngắm nhìn những người vô gia cư chậm chạp đi lại. Nếu chiến tranh nổ ra, cuộc khai giảng sẽ ra sao? Bruno rót một cốc vang; anh bắt đầu đói và hơi ngạc nhiên khi em trai trả lời giọng mệt mỏi:

“Huxley thuộc một gia đình gồm nhiều nhà sinh học lớn của Anh. Ông nội ông là bạn Darwin, đã viết rất nhiều để bảo vệ thuyết tiến hóa. Bố và anh trai ông, Julian, cũng là những nhà sinh học danh tiếng. Ðó là một truyền thống Anh, các nhà trí thức thực tế, tự do và hoài nghi; rất khác với Thế kỷ ánh sáng ở Pháp chủ yếu đặt nền móng ở quan sát và phương pháp thực nghiệm. Suốt thời thanh niên Huxley đã có cơ hội gặp các nhà kinh tế, luật gia, và nhất là các nhà khoa học mà bố ông mời đến nhà. Trong số các nhà văn ở thế hệ ông, chắc chắn ông là người có khả năng nhất trong việc nhìn trước các tiến bộ phát xuất từ sinh học. Nhưng tất cả sẽ còn nhanh hơn nhiều nếu không có nạn nazi. Ý thức hệ nazi đã đóng góp rất nhiều trong việc hạ thấp giá trị các ý tưởng về ưu sinh và cải thiện nòi giống; phải đợi nhiều thập kỷ sau đó chúng mới trở lại.” Michel đứng dậy, rút từ tủ sách của mình cuốn sách Ðiều tôi dám nghĩ. “Julian Huxley, anh trai của Aldous, viết quyển này, xuất bản năm 1931, một năm trước Brave New World. Trong đó có các ý tưởng về kiểm soát gen và cải tạo các giống loài, kể cả loài người, sau này được em trai ông đưa vào tiểu thuyết. Trong đó nó được trình bày, không chút mập mờ, như là một chủ đích định trước mà người ta sẽ phải hướng tới.”

Michel ngồi xuống, lấy tay chùi trán. “Sau chiến tranh, năm 1946, Julian Huxley được bổ nhiệm làm Tổng giám đốc Unesco khi Unesco vừa được thành lập. Cùng năm đó em trai ông xuất bản cuốn Brave New World Revisited, trong đó ông nhìn lại quyển sách trước đó như một sự chối từ, một trò đùa. Vài năm sau đó, Aldous Huxley trở thành ông tổ về mặt lý thuyết của phong trào hippie. Ông luôn ủng hộ tự do tình dục, và đã đóng vai trò tiên phong trong việc sử dụng các loại chất gây nghiện hướng thần. Tất cả các sáng lập viên của Esalen đều quen biết và chịu ảnh hưởng từ các tư tưởng của ông. Sau đó New Age đã lấy lại toàn bộ các chủ đề then chốt của Esalen để sử dụng cho mục đích của mình. Trên thực tế Aldous Huxley là một trong số các nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ.”

Họ đi ăn trong một nhà hàng ở góc phố, trong thực đơn có món thịt nhúng Trung Quốc cho hai người, giá 270 franc. Từ ba ngày nay Michel không ra khỏi nhà. “Hôm nay em chưa ăn gì cả”, anh nói, hơi ngạc nhiên. Tay anh vẫn cầm khư khư quyển sách.

“Huxley xuất bản cuốn Ðảo năm 1962, đó là cuốn sách cuối cùng của ông”, anh vừa gẩy đĩa cơm nếp vừa nói tiếp. “Ông gói gọn hành động trên một hòn đảo nhiệt đới thiên đường – thực vật và phong cảnh có lẽ lấy cảm hứng từ Sri Lanka. Trên hòn đảo đó phát triển một nền văn minh độc đáo, cách biệt với các trào lưu thương mại lớn của thế kỷ XX, vừa rất tiến bộ về công nghệ vừa có tính sinh thái: rất hòa bình, hoàn toàn không có những vụ cãi cọ trong gia đình và các mặc cảm Do Thái – Thiên Chúa. Ở đó không mặc quần áo là tự nhiên; sự ham muốn và tình yêu hoàn toàn tự do. Quyển sách tầm thường, dễ đọc đó đã đóng một vai trò cực lớn đối với phong trào hippie và qua họ, đến các tín đồ của New Age. Nếu nhìn cặn kẽ hơn, cái cộng đồng hài hòa miêu tả trong cuốn sách đó có rất nhiều điểm chung với Brave New World. Có lẽ bản thân Huxley, khi tuổi già lẩm cẩm, không ý thức được những tương đồng đó, nhưng xã hội được miêu tả trong Ðảo cũng gần gũi với Brave New World ngang với mức độ giống nhau giữa xã hội hippie phóng đãng và tư sản tự do, hay đúng hơn là một biến thể xã hội – dân chủ Thụy Ðiển.”

Anh ngừng lời, khuấy nước sốt cay, rồi đặt đũa xuống. “Cũng như anh trai mình, Aldous Huxley là một người lạc quan…”, cuối cùng anh nói, vẻ chán nản. “Sự chuyển dịch mang tính siêu hình nguồn gốc của chủ nghĩa duy vật và khoa học hiện đại mang lại hai hậu quả lớn: tính duy lý và chủ nghĩa cá nhân. Nhầm lẫn của Huxley là đã đánh giá không đúng tương lực giữa hai hậu quả này. Chính xác hơn, nhầm lẫn của ông là đã quá coi nhẹ sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân do ý thức về cái chết ngày càng tăng lên. Từ chủ nghĩa cá nhân nảy sinh ra tự do, cảm xúc về cái tôi, nhu cầu tự làm khác biệt và ở cao hơn người khác. Trong một xã hội duy lý như xã hội của Brave New World, cuộc tranh đấu có thể đã bị giảm mức độ. Cạnh tranh kinh tế, ẩn dụ của sự làm chủ không gian, có nhiều lý do để tồn tại hơn trong một xã hội giàu có, nơi các luồng chảy kinh tế được kiểm soát tốt hơn. Sự cạnh tranh tình dục, ẩn dụ ở khía cạnh tạo sinh cho sự kiểm soát thời gian, không còn lý do để tồn tại trong một xã hội nơi sự tách biệt tình dục – sinh sản đã được thực hiện một cách hoàn hảo; nhưng Huxley đã quên tính đến chủ nghĩa cá nhân. Ông không hiểu rằng tình dục, một khi tách khỏi sinh sản, sẽ tồn tại như sự thể hiện cái khác biệt cá nhân hơn là thể hiện khoái lạc; cũng tương tự giữa khoái lạc và sự giàu có. Tại sao mẫu hình xã hội – dân chủ Thụy Ðiển không bao giờ thắng thế được mô hình tự do? Tại sao nó thậm chí không bao giờ được thực thi trong lĩnh vực thỏa mãn về tình dục? Bởi vì sự dịch chuyển mang tính siêu hình do khoa học hiện đại tiến hành kéo theo nó sự cá nhân hóa, sự phù phiếm, lòng căm thù và ham muốn. Về bản chất, ham muốn – ngược hẳn lại với khoái lạc, là nguồn gốc của đau đớn, thù ghét và bất hạnh. Ðiều đó, tất cả các triết gia – không chỉ Phật giáo, không chỉ Cơ đốc, mà toàn bộ các triết gia xứng đáng với danh hiệu đó – đã biết và đã rao giảng. Giải pháp của các nhà không tưởng – từ Platon đến Huxley, giữa đó là Fourier – là dập tắt ham muốn và những đau đớn dính liền vào đó trong khi tạo ra sự thỏa mãn tức thì. Ngược lại, cái xã hội tình dục – tiêu thụ mà chúng ta đang sống đang bị thống trị bởi ham muốn và tôn vinh ham muốn ngoài mọi kích thước, mà vẫn duy trì sự thỏa mãn trong lãnh địa của riêng tư. Ðể xã hội vận hành được, để sự cạnh tranh tiếp tục, ham muốn cần phải tăng lên, phải mở rộng và nuốt đi cuộc sống của con người.” Anh lau trán, kiệt sức; anh không hề động đến đĩa thức ăn của mình.

“Cũng có những sửa chữa, những sửa chữa của các nhà nhân văn chủ nghĩa…”, Bruno rụt rè nói. “Tức là những thứ cho phép quên đi cái chết. Trong Brave New World, có các loại thuốc giảm lo sợ và chống trầm uất; Ðảo nói nhiều hơn đến suy tư, các loại thuốc kích thích thần kinh, vài yếu tố mơ hồ của Hindu giáo. Trong thực tiễn, ngày nay, người ta cố hòa trộn hai thứ vào với nhau.”

“Julian Huxley cũng từng đề cập đến các vấn đề tôn giáo trong Ðiều tôi dám nghĩ, ông dành nguyên phần thứ hai của cuốn sách để nói đến điều đó”, Michel đáp lời, càng lúc càng chán chường. “Ông có ý thức rất rõ rằng các tiến bộ khoa học và chủ nghĩa duy vật đã làm xói mòn các nền tảng của toàn bộ các tôn giáo truyền thống; ông cũng có ý thức rằng không một xã hội nào tồn tại được nếu thiếu tôn giáo. Trong hơn một trăm trang giấy, ông cố sức vứt bỏ nền tảng của một tôn giáo tương tự với tình trạng của khoa học. Không thể nói kết quả hoàn toàn thuyết phục; cũng không thể nói tiến hóa của các xã hội của chúng ta đều đi theo hướng đó. Trên thực tế, tất cả các hy vọng sáp nhập đều bị đánh đổ bởi thực tế của cái chết, sự phù phiếm và sự tàn bạo không thể không lan tràn. Ðể bù lại”, anh đột ngột kết luận, “dù sao vẫn còn có tình yêu.”

Posted in Uncategorized | 1 Comment »

18th Feb 2007

Tết 2007 – Ăn và ngủ

Tối nay, trong khi đi dọc những con đường đông đúc lẫn vắng tanh Sài Gòn, tự dưng thèm phát điên một bán bún ốc. Bún ốc Hà Nội kìa, dậy mùi dấm bỗng với rau thơm, rau muống chẻ và ốc, không phải bún ốc với chả, rau muống luộc, tiết và riêu kiểu Sài Gòn.

Cơn thèm phát điên đến xây xẩm mặt mày, em đi ra Nguyễn Công Trứ. Vâng, không có gì ngạc nhiên, bún ốc Hà Nội Lan Hoài đóng cửa ngày mồng 2 Tết. Đã chuẩn bị sẵn tinh thần là nó đóng cửa mà vẫn xây xẩm mặt mày. Hà Nội ơi và những cơn thèm ăn của em.

Với những dòng cảm thán ở trên, đại loại các bạn hình dung được cái Tết đậm màu vật chất hết sức xôi thịt của em. Mặc dù một bạn, để trả đũa nhận xét của em liên quan đến phương pháp giảm cân của bạn ấy, đã có ý kiến là ngày thường em cũng xôi thịt, đâu phải chỉ Tết, nhưng quả tình nhìn lại những ngày Tết vừa qua, ngoài những cơn shopping điên cuồng ra, thì những là bánh chưng, giò, đậu Nhật Bản, miến gà, canh măng, canh bóng, thịt rán, mực chiên, pasta tôm hùm, nước cam, nước bưởi và các loại ăn chơi ăn vặt. Vâng, chưa kể thêm là vang trắng, vang đỏ, Martini, bia vàng, bia trắng, bia đen, cocktail và vân vân.

Cần phải kiềm chế lại thôi, nếu không sau Tết sẽ phải chơi WOW để giảm cân thật.

Đây là bữa sáng của em, không phải diet đâu, đậu Nhật Bản có rất nhiều chất đạm



Còn sau khi ăn đủ bánh chưng giò măng miến bóng thì ăn trưa thế này cho sành điệu


Còn đây là ăn vặt suốt ngày


Eo, em lại thèm miến măng, thôi đi nấu miến măng ăn bữa không nhớ thứ mấy của ngày hôm nay.

Posted in Uncategorized | 14 Comments »

15th Feb 2007

From memory

Đêm hôm qua trước khi đi ngủ, em đi xuống nhà uống nước. Bước xuống đến bậc cuối cầu thang, thấy một điều gì lạ lạ. Một mùi hương xanh xao, nồng lên trong phòng kín cửa. Mùi hương mai chiếu thuỷ mới được đặt trong phòng từ chiều.

Vốc tay đầy hương mai.

Tự dưng một câu nảy ra trong trí nhớ. Vốc tay đầy hương mai, nghe quen quen, em đã nghe câu này ở đâu?

Câu hỏi luẩn quẩn cho đến khi uống nước xong và lên gác đi ngủ.

Vốc tay đầy hương mai.

Trước khi tắt đèn, em mới nhớ ra. Bản nguyên của nó là “Vốc tay đầy hương linh”, một câu thơ trong một bài thơ nào đó của Vi Thuỳ Linh. Hồi đó đã từng nổi tiếng.

Hồi đó, bạn Q từng có em bồ tên là Mai. Và cho hợp cảnh, (em đã giúp) bạn biến tấu lại thành “Vốc tay đầy hương mai”.

Một chuyện nhỏ nhặt không đầu không cuối, trong hằng hà sa số những điều lăng nhăng vớ vẩn đã từng nói từng nghe trong đời. Bạn Q chắc hẳn đã quên sau khi câu đó được nói ra 10 phút. Em Mai chẳng biết bây giờ ở đâu.

Vậy mà bao nhiêu lâu sau, tự dưng từ đâu đó nhảy ra, ở cuối bậc cầu thang này, cách HN 2000 km và nhiều năm thời gian, vì một mùi hương xanh xao ngày cuối năm.

Nhưng nói cho cùng, ngày cuối năm chả phải là ngày góp nhặt những mảnh vụn trí nhớ để yên tâm rằng mình cũng đã từng có “một lịch sử” đấy sao?

Vốc tay đầy hương mai…

Posted in Uncategorized | 7 Comments »

05th Feb 2007

The Decadence

Lượn 1 vòng blog các bạn thấy tà la review sách vở phim ảnh, lấy làm đau lòng cho sự suy đồi của mình.

Phim cuối cùng đã xem: Devil wears Prada, he he, strongly recommended to shopping girls. Trước đấy có xem cả Silent Fall, phim cũ xì, xem cũng được, thriller không có gì đặc biệt vì chưa hết phim em đã đoán xừ ra kết quả (thật là giỏi mặc dù 8 năm nay không chạm đến quyển Agatha Christie nào), nhưng có em Liv Tyler xinh đẹp nổi bật và em bé gì đó đóng vai tự kỷ xuất sắc nổi bật.

Sau đó thấy nhiều người nói phim này dựng sai toét về chứng tự kỷ, nhưng đằng nào em cũng chả biết gì về chứng tự kỷ (trừ một số triệu chứng mà may quá em chả có chứng nào) nên cũng không có vấn đề gì.

À trước đấy còn xem cả Little Miss Sunshine, nhưng vì expect nhiều quá nên cũng hơi thất vọng. Đấy, hậu quả của việc đọc review. Kết luận rút ra, không có gì mới và hết sức vô nghĩa, sự hài lòng đối với mọi thứ xem nghe đọc (và có thể cả mọi thứ không phải xem nghe đọc) đều is all about expectation. Kết luận tiếp theo: dạo này em viết đá tiếng Anh lung tung người đọc chắc là rất ghét, nên nghĩ tới việc sử dụng một thứ tiếng Việt sạch sẽ hơn.

Sau đấy (nghĩa là lâu lâu nay) chẳng xem gì nữa dù ngoài rạp có đủ cả Eragon (truyện đọc chán chết), Déjà-vu (bạn nào về cũng chê), và ở nhà có đầy đủ Babel, Borat, The Departed và những thứ gây ầm ỹ khác, mua những gì cũng quên mất rồi.

Đã thế Tết em đi xem Trai nhảy, Võ lâm truyền kỳ, Chuông reo là bắn cho cập nhật tình hình phim thị trường nước nhà.

Còn về sách thì các bạn đừng hỏi em. Từ hồi anh Linh kính biếu 1 đống sách thì chúng nó vẫn ở đó, dù anh Linh đã kịp có mấy đời người yêu, uống mấy trăm cốc cafe và thậm chí đã kịp quay lại Mỹ. Moon Palace ở trên giường từ khi được tặng đến nay vẫn dừng ở trang 25 (con số mang tính tượng trưng, sự thật thì nó có thể là 15 hoặc 30, nhất quyết không quá 40).

Nhưng thôi không nên ghen tỵ với các bạn làm gì. Em Ếch thì qua mùa Noel, làm gì còn party để mà bận, nên đọc được cả Ba người khác là phải. Em Thảo thì cũng phải làm cái gì để tiêu hoá giữa những kỳ phá lấu chiên, bún, bánh canh, nộm, gỏi, bánh mỳ, giò,… chứ.

Nên em yên tâm tiếp tục vòng xoay Sài Gòn: đọc wikipedia và Ngôisao.net, shopping và các thú vui thiếu lành mạnh khác. Rồi các bạn cũng sẽ đến ngày đấy thôi (nói vậy cho lương tâm được thanh thản).

Quên, ảnh trên là tóc mới cắt của em. Bạn nào có dự định hay đang tập thể thao thì không nên cắt thế này. Em lỡ rồi thì chịu.

Posted in Uncategorized | 17 Comments »

03rd Feb 2007

Painful conversations

Những cuộc đối thoại làm đau lòng

– Lâu không nghe giọng, không nhận ra. Tưởng con cháu gọi
– Thật là mất giá người ta
– Sao lại mất giá? Thế là hồn nhiên. Có tiền cũng chả mua được
– Mất giá vị giọng mình supposed to be phụ nữ trưởng thành, quyến rũ, sexy hay gì gì đấy chứ. Giống đứa 5 tuổi thì làm sao mà quyến rũ sexy được

*
**


– Em chuyển làm mấy chỗ rồi nhỉ?
– Thì 1 ở ngoài công ty này, xong 2 trong công ty này. Có khi sắp chuyển thêm lần nữa.
– Trung bình 1 năm 1 chỗ à?
– Bắt đầu đi làm tháng 12/2004. Giờ tính ra mới có hơn 2 năm, sắp chuyển sang chỗ thứ 4
– Nửa năm chuyển 1 lần, thật là người thiếu chung thủy.

Posted in Uncategorized | 1 Comment »