22nd Feb 2007

Brave New World

Trích đoạn từ Hạt cơ bản của Houellebecq, vẫn “rất thời trang”, như một review về The Brave New World của Huxley, về tương lai và hoài nghi của thời đại chúng ta.

Bruno đến vào quãng chín giờ tối, anh đã uống một chút và muốn đề cập những vấn đề lý thuyết, “Anh luôn bị ấn tượng”, anh bắt đầu trước khi kịp ngồi xuống, “trước sự chính xác lạ thường của những dự đoán mà Aldous Huxley trình bày trong Brave New World. Nhất là khi ông ấy viết quyển sách đó từ mãi năm 1932. Kể từ đó, xã hội Tây phương luôn tìm cách tiếp cận hình mẫu đó. Kiểm soát ngày càng chính xác hơn sự truyền giống, một ngày nào đó nó sẽ kết thúc bằng việc giải trừ hoàn toàn tình dục, và đến việc tái tạo giống người trong phòng thí nghiệm trong những điều kiện an toàn và tính khả thi di truyền hoàn toàn. Do đó sẽ biến mất những quan hệ gia đình, khái niệm bố mẹ và liên kết. Nhờ vào những tiến bộ dược phẩm, sẽ loại trừ phân biệt về tuổi tác của cuộc đời. Trong thế giới do Huxley miêu tả, những ông già sáu mươi tuổi có cùng những hoạt động, cùng vẻ bề ngoài, cùng những ham muốn với một thằng thanh niên hai mươi tuổi. Rồi khi không còn cần đấu tranh chống sự già đi, người ta chết bằng trợ tịch được thông qua dễ dàng; rất kín đáo, rất nhanh chóng, không có thảm kịch nào hết. Xã hội được miêu tả trong Brave New World là một xã hội hạnh phúc, tại đó bi kịch và những thứ tình cảm quá đà đã biến mất. Tự do tình dục ở đó là hoàn toàn, không gì gây trở ngại cho sự bừng nở và khoái cảm. Có những giây phút trầm uất, buồn bã và nghi ngờ ngắn ngủi; nhưng chúng được chữa khỏi rất nhanh bằng thuốc men. Hóa học về chống trầm uất và lo sợ đã đạt những tiến bộ đáng kể. ‘Một xăng-ti-mét khối chữa được mười thứ tình cảm.’ Ðó chính xác là cái thế giới mà ngày nay chúng ta đang mơ ước, cái thế giới trong đó, ngày nay, chúng ta mong được sống.”

“Anh biết rõ”, Bruno nói tiếp với một cử động của bàn tay như để quét đi một trở ngại nào đó mà Michel không hề tạo ra, “rằng thường thì người ta miêu tả xã hội của Huxley như một cơn ác mộng toàn trị, rằng người ta cố biến quyển sách này thành một lời cự tuyệt mạnh mẽ. Đó là một thứ đạo đức giả hoàn toàn và đơn giản. Ở mọi điểm – kiểm soát gen, tự do tình dục, chiến thắng tuổi già, văn minh hưởng lạc, Brave New World là một thiên đường, và chính xác nó là cái thế giới mà chúng ta đang cố đạt tới, nhưng đến giờ vẫn chưa thành công. Ngày nay chỉ có một điều hơi động chạm đến hệ thống giá trị công bằng của chúng ta – hoặc chính xác hơn là chế độ hưởng theo năng lực – sự phân chia trong xã hội thành các giai tầng, bị ảnh hưởng bởi những công việc khác nhau theo bản chất di truyền của chúng. Nhưng chính đó là điểm duy nhất Huxley tỏ ra là một nhà tiên tri kém cỏi; chính đó là điểm duy nhất, với sự phát triển của quá trình rô bốt hóa và máy móc hóa, đã trở nên ngày càng vô nghĩa. Không thể nghi ngờ Aldous Huxley là một nhà văn rất tồi, câu văn của ông nặng nề và không có tí duyên dáng nào, những nhân vật của ông buồn tẻ và máy móc. Nhưng ông có cái nền tảng trực giác rằng tiến trình của xã hội loài người từ nhiều thế kỷ nay, và ngày càng như thế, chỉ duy nhất được khoa học và công nghệ hướng lối. Ngoài ra ông còn thiếu tinh tế, thiếu tâm lý, thiếu phong cách; tất cả những cái đó ít ảnh hưởng đến tính đúng đắn của trực giác ban đầu của ông. Và là người đầu tiên trong số các nhà văn, kể cả các nhà văn chuyên viết truyện khoa học viễn tưởng, ông đã hiểu được rằng sau vật lý giờ đây sinh học sẽ đóng vai trò đầu tàu.”

Bruno ngừng lời, nhận ra em trai có vẻ gầy đi; Michel trông mệt mỏi, lo lắng, không tập trung lắm. Quả thật đã từ vài ngày nay, anh không đi chợ mua đồ ăn. Trái ngược lại với những năm trước, giờ đây trước cửa siêu thị Monoprix có rất nhiều người ăn xin và bán báo dạo; nhưng dù sao bây giờ vẫn đang là mùa hè, thường thì đó là mùa mà sự nghèo khó không đến nỗi thảm khốc lắm. Sẽ như thế nào nếu xảy ra chiến tranh? Michel tự hỏi khi đứng ở cửa sổ ngắm nhìn những người vô gia cư chậm chạp đi lại. Nếu chiến tranh nổ ra, cuộc khai giảng sẽ ra sao? Bruno rót một cốc vang; anh bắt đầu đói và hơi ngạc nhiên khi em trai trả lời giọng mệt mỏi:

“Huxley thuộc một gia đình gồm nhiều nhà sinh học lớn của Anh. Ông nội ông là bạn Darwin, đã viết rất nhiều để bảo vệ thuyết tiến hóa. Bố và anh trai ông, Julian, cũng là những nhà sinh học danh tiếng. Ðó là một truyền thống Anh, các nhà trí thức thực tế, tự do và hoài nghi; rất khác với Thế kỷ ánh sáng ở Pháp chủ yếu đặt nền móng ở quan sát và phương pháp thực nghiệm. Suốt thời thanh niên Huxley đã có cơ hội gặp các nhà kinh tế, luật gia, và nhất là các nhà khoa học mà bố ông mời đến nhà. Trong số các nhà văn ở thế hệ ông, chắc chắn ông là người có khả năng nhất trong việc nhìn trước các tiến bộ phát xuất từ sinh học. Nhưng tất cả sẽ còn nhanh hơn nhiều nếu không có nạn nazi. Ý thức hệ nazi đã đóng góp rất nhiều trong việc hạ thấp giá trị các ý tưởng về ưu sinh và cải thiện nòi giống; phải đợi nhiều thập kỷ sau đó chúng mới trở lại.” Michel đứng dậy, rút từ tủ sách của mình cuốn sách Ðiều tôi dám nghĩ. “Julian Huxley, anh trai của Aldous, viết quyển này, xuất bản năm 1931, một năm trước Brave New World. Trong đó có các ý tưởng về kiểm soát gen và cải tạo các giống loài, kể cả loài người, sau này được em trai ông đưa vào tiểu thuyết. Trong đó nó được trình bày, không chút mập mờ, như là một chủ đích định trước mà người ta sẽ phải hướng tới.”

Michel ngồi xuống, lấy tay chùi trán. “Sau chiến tranh, năm 1946, Julian Huxley được bổ nhiệm làm Tổng giám đốc Unesco khi Unesco vừa được thành lập. Cùng năm đó em trai ông xuất bản cuốn Brave New World Revisited, trong đó ông nhìn lại quyển sách trước đó như một sự chối từ, một trò đùa. Vài năm sau đó, Aldous Huxley trở thành ông tổ về mặt lý thuyết của phong trào hippie. Ông luôn ủng hộ tự do tình dục, và đã đóng vai trò tiên phong trong việc sử dụng các loại chất gây nghiện hướng thần. Tất cả các sáng lập viên của Esalen đều quen biết và chịu ảnh hưởng từ các tư tưởng của ông. Sau đó New Age đã lấy lại toàn bộ các chủ đề then chốt của Esalen để sử dụng cho mục đích của mình. Trên thực tế Aldous Huxley là một trong số các nhà tư tưởng có ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ.”

Họ đi ăn trong một nhà hàng ở góc phố, trong thực đơn có món thịt nhúng Trung Quốc cho hai người, giá 270 franc. Từ ba ngày nay Michel không ra khỏi nhà. “Hôm nay em chưa ăn gì cả”, anh nói, hơi ngạc nhiên. Tay anh vẫn cầm khư khư quyển sách.

“Huxley xuất bản cuốn Ðảo năm 1962, đó là cuốn sách cuối cùng của ông”, anh vừa gẩy đĩa cơm nếp vừa nói tiếp. “Ông gói gọn hành động trên một hòn đảo nhiệt đới thiên đường – thực vật và phong cảnh có lẽ lấy cảm hứng từ Sri Lanka. Trên hòn đảo đó phát triển một nền văn minh độc đáo, cách biệt với các trào lưu thương mại lớn của thế kỷ XX, vừa rất tiến bộ về công nghệ vừa có tính sinh thái: rất hòa bình, hoàn toàn không có những vụ cãi cọ trong gia đình và các mặc cảm Do Thái – Thiên Chúa. Ở đó không mặc quần áo là tự nhiên; sự ham muốn và tình yêu hoàn toàn tự do. Quyển sách tầm thường, dễ đọc đó đã đóng một vai trò cực lớn đối với phong trào hippie và qua họ, đến các tín đồ của New Age. Nếu nhìn cặn kẽ hơn, cái cộng đồng hài hòa miêu tả trong cuốn sách đó có rất nhiều điểm chung với Brave New World. Có lẽ bản thân Huxley, khi tuổi già lẩm cẩm, không ý thức được những tương đồng đó, nhưng xã hội được miêu tả trong Ðảo cũng gần gũi với Brave New World ngang với mức độ giống nhau giữa xã hội hippie phóng đãng và tư sản tự do, hay đúng hơn là một biến thể xã hội – dân chủ Thụy Ðiển.”

Anh ngừng lời, khuấy nước sốt cay, rồi đặt đũa xuống. “Cũng như anh trai mình, Aldous Huxley là một người lạc quan…”, cuối cùng anh nói, vẻ chán nản. “Sự chuyển dịch mang tính siêu hình nguồn gốc của chủ nghĩa duy vật và khoa học hiện đại mang lại hai hậu quả lớn: tính duy lý và chủ nghĩa cá nhân. Nhầm lẫn của Huxley là đã đánh giá không đúng tương lực giữa hai hậu quả này. Chính xác hơn, nhầm lẫn của ông là đã quá coi nhẹ sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân do ý thức về cái chết ngày càng tăng lên. Từ chủ nghĩa cá nhân nảy sinh ra tự do, cảm xúc về cái tôi, nhu cầu tự làm khác biệt và ở cao hơn người khác. Trong một xã hội duy lý như xã hội của Brave New World, cuộc tranh đấu có thể đã bị giảm mức độ. Cạnh tranh kinh tế, ẩn dụ của sự làm chủ không gian, có nhiều lý do để tồn tại hơn trong một xã hội giàu có, nơi các luồng chảy kinh tế được kiểm soát tốt hơn. Sự cạnh tranh tình dục, ẩn dụ ở khía cạnh tạo sinh cho sự kiểm soát thời gian, không còn lý do để tồn tại trong một xã hội nơi sự tách biệt tình dục – sinh sản đã được thực hiện một cách hoàn hảo; nhưng Huxley đã quên tính đến chủ nghĩa cá nhân. Ông không hiểu rằng tình dục, một khi tách khỏi sinh sản, sẽ tồn tại như sự thể hiện cái khác biệt cá nhân hơn là thể hiện khoái lạc; cũng tương tự giữa khoái lạc và sự giàu có. Tại sao mẫu hình xã hội – dân chủ Thụy Ðiển không bao giờ thắng thế được mô hình tự do? Tại sao nó thậm chí không bao giờ được thực thi trong lĩnh vực thỏa mãn về tình dục? Bởi vì sự dịch chuyển mang tính siêu hình do khoa học hiện đại tiến hành kéo theo nó sự cá nhân hóa, sự phù phiếm, lòng căm thù và ham muốn. Về bản chất, ham muốn – ngược hẳn lại với khoái lạc, là nguồn gốc của đau đớn, thù ghét và bất hạnh. Ðiều đó, tất cả các triết gia – không chỉ Phật giáo, không chỉ Cơ đốc, mà toàn bộ các triết gia xứng đáng với danh hiệu đó – đã biết và đã rao giảng. Giải pháp của các nhà không tưởng – từ Platon đến Huxley, giữa đó là Fourier – là dập tắt ham muốn và những đau đớn dính liền vào đó trong khi tạo ra sự thỏa mãn tức thì. Ngược lại, cái xã hội tình dục – tiêu thụ mà chúng ta đang sống đang bị thống trị bởi ham muốn và tôn vinh ham muốn ngoài mọi kích thước, mà vẫn duy trì sự thỏa mãn trong lãnh địa của riêng tư. Ðể xã hội vận hành được, để sự cạnh tranh tiếp tục, ham muốn cần phải tăng lên, phải mở rộng và nuốt đi cuộc sống của con người.” Anh lau trán, kiệt sức; anh không hề động đến đĩa thức ăn của mình.

“Cũng có những sửa chữa, những sửa chữa của các nhà nhân văn chủ nghĩa…”, Bruno rụt rè nói. “Tức là những thứ cho phép quên đi cái chết. Trong Brave New World, có các loại thuốc giảm lo sợ và chống trầm uất; Ðảo nói nhiều hơn đến suy tư, các loại thuốc kích thích thần kinh, vài yếu tố mơ hồ của Hindu giáo. Trong thực tiễn, ngày nay, người ta cố hòa trộn hai thứ vào với nhau.”

“Julian Huxley cũng từng đề cập đến các vấn đề tôn giáo trong Ðiều tôi dám nghĩ, ông dành nguyên phần thứ hai của cuốn sách để nói đến điều đó”, Michel đáp lời, càng lúc càng chán chường. “Ông có ý thức rất rõ rằng các tiến bộ khoa học và chủ nghĩa duy vật đã làm xói mòn các nền tảng của toàn bộ các tôn giáo truyền thống; ông cũng có ý thức rằng không một xã hội nào tồn tại được nếu thiếu tôn giáo. Trong hơn một trăm trang giấy, ông cố sức vứt bỏ nền tảng của một tôn giáo tương tự với tình trạng của khoa học. Không thể nói kết quả hoàn toàn thuyết phục; cũng không thể nói tiến hóa của các xã hội của chúng ta đều đi theo hướng đó. Trên thực tế, tất cả các hy vọng sáp nhập đều bị đánh đổ bởi thực tế của cái chết, sự phù phiếm và sự tàn bạo không thể không lan tràn. Ðể bù lại”, anh đột ngột kết luận, “dù sao vẫn còn có tình yêu.”

One Response to “Brave New World”

  1. Anh mai Says:

    I am reading this book in my high school and trying to seek Vietnamese’s views on it. Thank you very much for this entry. It’s really useful.

Leave a Reply